Nền tảng thế giớiWorld Bible

Reality Depths (Các Tầng Thực Tại)

Depth Level (Bậc Chiều Sâu), ký hiệu D0–D5, cho biết hiện tượng đang được mô tả ở lớp cấu trúc nào của thực tại. Số càng cao, tầng đó càng gần nền móng sinh ra vũ trụ.

Nguyên tắc

Depth Level (Bậc Chiều Sâu), ký hiệu D0–D5, cho biết hiện tượng đang được mô tả ở lớp cấu trúc nào của thực tại. Số càng cao, tầng đó càng gần nền móng sinh ra vũ trụ.

Các tầng không phải những căn phòng xếp chồng lên nhau. D0 và D1 có thể mô tả cùng một vật ở hai mức chi tiết khác nhau; một cơ thể không rời D0 khi được phân tích ở D1.

Depth Level không phải cấp sức mạnh:

  • D-Level xác định loại cấu trúc được quan sát hoặc tác động.
  • S-Rank xác định quy mô, công suất và thời gian duy trì tác động.

Quyền thao tác Sense–Touch–Shape–Rule chỉ áp dụng cho D0–D2. D3–D5 là các tầng ràng buộc: có thể quan sát, mô hình hóa hoặc dùng làm nền xác thực, nhưng không thể biến thành vũ khí hay chỉnh sửa tùy ý.

Sơ đồ phát sinh thực tại

D5 — The First Deep / Uyên Nguyên / Cõi Thẳm
 ↓ cung cấp những trạng thái có thể tồn tại
D4 — Law Layer / Luật Giới / Nếp Trời
 ↓ xác định các định luật
D3 — Causal Layer / Nhân Quả Giới / Cõi Trước Sau
 ↓ xác định quan hệ nguyên nhân và kết quả
D2 — Spacetime Layer / Thời Không Giới / Cõi Xa Gần
 ↓ tạo khoảng cách, thời gian và trọng lực
D1 — Quantum Field Layer / Lượng Giới / Cõi Hạt Sóng
 ↓ tạo hạt, lực và nguyên tử
D0 — Surface Reality / Hiện Giới / Cõi Thấy

Layer Physics (Vật Lý Phân Tầng) là lý thuyết tương lai mô tả cấu trúc trên. Đây là phần mở rộng hư cấu; khoa học thế kỷ XXI chưa chứng minh thực tại phân tầng theo mô hình này.

Những gì không phải một tầng thực tại

Chỉ D0–D5 được gọi là các tầng thực tại. Một số tên có chữ “giới”, “vực”, “cõi” hoặc “trường” không tự động tạo thêm D-Level:

  • Nguyên La là hạ tầng nhân tạo xuyên nhiều tầng, không phải D6.
  • Trường Điều Khiển là vùng hiệu ứng do cá thể hoặc thiết bị duy trì, không phải một tầng riêng.
  • Trường Áp Chế là hiệu ứng gây nhiễu, còn Mạng Áp Chế là hạ tầng tạo hiệu ứng đó.
  • Mạng Cách Ly là công trình bẻ tuyến Fold quanh Hệ Sol.
  • KBC Void là vùng thiên văn thuộc D0, không phải chiều không gian hoặc tầng thực tại.
  • Ngục Tinh là phân loại chức năng của Earth, không phải một cõi độc lập.

D0 — Surface Reality (Hiện Giới / Cõi Thấy)

Bản chất

Thực tại vĩ mô mà sinh vật trực tiếp trải nghiệm: vật chất, nhiệt, ánh sáng, âm thanh, phản ứng hóa học, cơ thể sống, hành tinh và ngôi sao.

Năng lực điển hình

  • Cường hóa cơ bắp và xương.
  • Tái tạo mô.
  • Thay đổi trao đổi chất.
  • Chỉnh sửa gen.
  • Công nghệ nano.
  • Vũ khí cơ học và hóa học.

Giới hạn

D0 không trực tiếp thay đổi cấu trúc hạt, hình học không-thời gian, nhân quả hoặc định luật. Mortal, Kindled và phần lớn Risen hoạt động chủ yếu tại tầng này.

D1 — Quantum Field Layer (Lượng Giới / Cõi Hạt Sóng)

Bản chất

Tầng của trường lượng tử, hạt cơ bản, điện từ, liên kết nguyên tử, phản ứng hạt nhân, plasma và xác suất vi mô.

Năng lực điển hình

  • Điều khiển plasma và điện từ.
  • Tách hoặc liên kết nguyên tử.
  • Biến đổi nguyên tố.
  • Điều khiển ánh sáng.
  • Tạo lá chắn trường.
  • Điều khiển phản ứng nhiệt hạch.

Bảo toàn

Biến đổi nguyên tố vẫn phải xử lý số proton, neutron, điện tích, chênh lệch khối lượng, năng lượng liên kết và bức xạ. Tính toán sai có thể tạo phóng xạ, plasma hoặc vụ nổ hạt nhân.

Kindled có thể cảm nhận D1; Risen có thể tác động nhẹ; Arcanist trở lên mới điều khiển ổn định.

D2 — Spacetime Layer (Thời Không Giới / Cõi Xa Gần)

Bản chất

Tầng xác định khoảng cách, tốc độ trôi thời gian, độ cong không-thời gian, trọng lực, quán tính, quỹ đạo và cấu trúc Fold.

Năng lực điển hình

  • Điều khiển trọng lực và quán tính.
  • Mở Tinh Môn.
  • Thực hiện Tinh Bộ.
  • Tạo không gian chứa.
  • Làm chậm thời gian cục bộ.
  • Bẻ cong đường đi của ánh sáng.
  • Thay đổi quỹ đạo thiên thể.

Bảo toàn

Tinh Bộ rút ngắn đường đi; con tàu không vượt tốc độ ánh sáng cục bộ. Mọi thay đổi chuyển động phải chuyển động lượng phản lại vào bộ ổn định không gian, Core, hành tinh hoặc thiên thể khác.

Thất bại

  • Lực thủy triều nghiền nát vật chất.
  • Fold co sập.
  • Vật thể đến sai tọa độ.
  • Các bộ phận mất đồng bộ thời gian.
  • Sóng hấp dẫn thoát ra môi trường.

Arcanist chuyên biệt có thể chạm D2 trong phạm vi nhỏ. Sovereign và Ascendant mới điều khiển ổn định trên phạm vi lớn.

D3 — Causal Layer (Nhân Quả Giới / Cõi Trước Sau)

Bản chất

Tầng xác định sự kiện nào có thể dẫn đến sự kiện nào, thứ tự nguyên nhân–kết quả, các khả năng tương lai, đường truyền thông tin và tính liên tục của Chân Danh.

Khả năng tiếp cận hợp lệ

  • Lần theo Dấu Nhân Quả của một sự kiện.
  • Xác định quan hệ nào có thể truyền vật chất, năng lượng hoặc thông tin.
  • Mô phỏng nhiều tương lai khả dĩ từ trạng thái hiện tại.
  • Kiểm chứng thứ tự Network Time.
  • Kiểm tra tính liên tục của Chân Danh và nguồn gốc Tâm Ảnh.
  • Ghi nhận Dấu Thề của một Chân Thệ đã được chủ thể tự nguyện lập.

Dự báo không phải nhìn thấy tương lai đã định sẵn. Nó là mô hình có sai số; hành động dựa trên dự báo sẽ tạo thêm nguyên nhân và làm kết quả thay đổi. D3 ghi nhận Chân Thệ nhưng không tự nghĩ ra nghĩa vụ hoặc hình phạt.

Thất bại

  • Nhầm tương quan với nguyên nhân.
  • Dự báo sai do dữ liệu thiếu hoặc hệ hỗn loạn.
  • Chân Danh thật bị nhầm với một Tâm Ảnh sao chép.
  • Người quan sát không phân biệt dữ kiện với tương lai mô phỏng.
  • Quyết định sai tạo thêm Gánh Nhân Quả cho chính người quan sát.

Một số Weven có thể cảm nhận D3 từ cấp thấp. Cấp cao hơn chỉ tăng độ sâu dữ liệu, phạm vi và khả năng chịu tải; không cấp nào được quyền điều khiển nhân quả. Quy tắc đầy đủ nằm tại Trật Tự Nhân Quả.

D4 — Law Layer (Luật Giới / Nếp Trời)

Bản chất

Tầng chứa những điều kiện quy định một vũ trụ được vận hành như thế nào:

  • Các trường lượng tử được phép tồn tại.
  • Giá trị của hằng số vật lý.
  • Quan hệ khối lượng–năng lượng.
  • Số chiều không gian.
  • Cường độ các tương tác.
  • Những cấu trúc vật chất có thể ổn định.

Dân gian gọi nó là Nếp Trời vì mọi vật tồn tại theo “nếp” mà trời đất đã được định hình.

Khả năng tiếp cận hợp lệ

  • Đo và mô hình hóa các hằng số nền.
  • Kiểm tra một cấu hình vật chất hoặc không-thời gian có được phép ổn định hay không.
  • Mô phỏng những vũ trụ giả định trong hệ tính toán.
  • Dùng D0–D2 để tạo môi trường cực đoan nhưng vẫn nằm trong định luật hiện hữu.
  • Kiểm tra một Chân Thệ cấp cao có đòi điều bất khả thi hoặc mâu thuẫn với định luật nền hay không.

D4 của vũ trụ đang tồn tại không thể bị sửa cục bộ. Những vùng có trọng lực, tốc độ phản ứng hoặc nhịp thời gian khác nhau đều là hiệu ứng D1–D2, không phải một bộ định luật mới. Genesis chỉ được đặt D4 như điều kiện ban đầu khi kiến tạo một vũ trụ mới; từ khi vũ trụ đó vận hành, chính Genesis cũng bị ràng buộc.

D5 — The First Deep (Uyên Nguyên / Cõi Thẳm)

Bản chất

Uyên Nguyên là trạng thái tiền–không-thời gian. Nó không chứa sẵn vật chất, khoảng cách, thời gian tuyến tính hoặc một tập định luật cố định. Nó chứa những trạng thái nền từ đó nhiều loại vũ trụ có thể được thiết lập.

Vai trò điển hình

  • Tạo nền cho một vũ trụ mới.
  • Chọn tập định luật và cấu trúc nhân quả ban đầu cho một vũ trụ mới.
  • Tạo không-thời gian.
  • Đưa năng lượng và vật chất ban đầu vào vũ trụ.
  • Tách một vũ trụ mới khỏi hạ tầng kiến tạo.
  • Tiếp nhận năng lượng và thông tin khi một cấu trúc vũ trụ bị kết thúc bằng quá trình vật lý hợp lệ.

Vì sao không thể trực tiếp bước vào Uyên Nguyên?

Cơ thể cần vật chất ổn định, không-thời gian, nhân quả và định luật để tồn tại. Các khái niệm đó chưa được xác lập tại D5. Vì thế không có môi trường tại D5 để một cơ thể bước vào và tiếp tục sống như trong không gian thông thường.

Genesis không trực tiếp bước vào Uyên Nguyên. Họ dùng Nguyên Tọa làm giao diện và Nguyên La làm hạ tầng. Bộ ổn định giữ an toàn cho cơ thể cùng thiết bị ở phía vũ trụ đang tồn tại, không biến D5 thành nơi có thể cư trú. Một Chân Thệ cấp Genesis có thể được Nguyên Tọa ghi thành giới hạn đối với quyền kiến tạo của chính người thề; D5 không tự phán xét hoặc trừng phạt họ.

Prime Network (Nguyên La / Lưới Trời)

Nguyên La không phải D6. Nó là công trình nhân tạo xuyên qua nhiều tầng:

Bộ phậnTầng hoạt động
Core và thiết bị vật chấtD0–D1
Tinh Môn và đường FoldD2
Kiểm chứng Tâm Ảnh, Chân Danh và thứ tự sự kiệnD3
Mô hình định luật và Nguyên Ngôn kiến tạoD4
Giao diện của Nguyên TọaD5

Orden không tạo ra Uyên Nguyên. Họ chiếm quyền một phần Nguyên La rồi dùng nó xây Mạng Áp Chế và Ngục Tinh.

Bốn mức quyền vận hành tại D0–D2

MứcEnglishHán–ViệtKhả năng
1SenseCảm TriNhận biết hiện tượng
2TouchTiếp XúcTạo nhiễu hoặc thay đổi nhỏ
3ShapeĐịnh HìnhDuy trì hiệu ứng ổn định
4RuleChủ TrịĐặt điều kiện cho đối tượng khác trong phạm vi

Ví dụ:

  • D2–Sense: cảm nhận Fold hoặc biến dạng trọng lực.
  • D2–Touch: giảm trọng lượng cơ thể trong vài giây.
  • D2–Shape: mở một Tinh Môn ổn định.
  • D2–Rule: duy trì mạng ngăn Fold trong vùng đã được thiết bị bao phủ; hiệu quả phụ thuộc công suất, độ phủ và tải phải chống chịu.

Các mức này không áp dụng cho D3–D5. Với D3 dùng các mức nhận dấu → truy vết → mô hình → kiểm chứng; với D4 dùng đo → mô hình; D5 chỉ được tiếp cận qua giao diện kiến tạo Genesis.

Liên hệ với cấp sức mạnh

S-RankTầng thường đạt
S0 — MortalD0
S1 — KindledD0; cảm nhận D1
S2 — RisenD1–Touch
S3 — ArcanistD1–Shape; D2–Touch; có thể cảm nhận Dấu Nhân Quả gần
S4 — SovereignD1–Rule; D2–Shape
S5 — AscendantD2–Shape trên phạm vi lớn; truy vết Dấu Nhân Quả với nhiều dữ liệu hơn
S6 — WorldshaperD2–Rule ở cấp hành tinh
S7 — StarbornD2–Rule ở cấp hệ sao; truy vết D3 quy mô hệ sao
S8 — CelestialD2–Rule qua hạ tầng thiên hà; mô hình D3 quy mô thiên hà
S9 — EternalĐiều phối D0–D2 liên thiên hà; kiểm chứng D3 và mô hình D4
S10 — GenesisTruy cập D5 qua Nguyên Tọa để kiến tạo vũ trụ mới

Hồ sơ S3 / D2–Touch chỉ một Arcanist có thể tác động nhẹ lên không-thời gian. Hồ sơ S5 / D1–Rule chỉ một Ascendant có công suất khổng lồ tại tầng trường lượng tử nhưng không thể sửa nhân quả.

Phân biệt nguồn gốc thực tại với cách dùng năng lực

Sơ đồ D5 → D0 ở đầu tài liệu mô tả quan hệ nền tảng trong mô hình vũ trụ. Nó không phải chuỗi thao tác mà mọi phép thuật phải đi qua.

Một Thuật Sư điều khiển plasma ở D1 không cần sửa D4 rồi tạo lại D3 và D2. Thiết bị của họ tác động lên các trường đang tồn tại, trong định luật và quan hệ nhân quả sẵn có.

Tiếp cận tầng sâu hơn không tự cấp thêm năng lượng hay quyền thay đổi quy luật. D0–D2 là phạm vi vận hành; D3 dùng để quan sát và kiểm chứng; D4 của vũ trụ hiện hữu không thể sửa; D5 chỉ được tiếp cận qua Nguyên Tọa trong quá trình kiến tạo Genesis.