Quy mô và bản đồ vũ trụ
Khoảng cách vẫn tạo ra biên giới. Những hành lang thuận lợi để tạo Fold, Tinh Môn và vùng ổn định D2 quyết định đường đi; khoảng trống liên thiên hà đòi hỏi năng lượng cùng hạ tầng rất lớn để vượt qua. KBC Void không…
Phạm vi của câu chuyện
| Phạm vi | Vai trò |
|---|---|
| Earth–Luna | Nơi cất giấu bí mật Ngục Tinh và điểm bùng phát Thức Tỉnh |
| Hệ Sol | Quê hương Human; về sau bị phe quân sự Orden nhắm tới |
| Orion Arm | Vùng nhà tù cổ, thuộc địa mới và nhiều chiến tuyến chồng lấn |
| Milky Way | Chiến trường chính của các quốc gia, chủng tộc và hạm đội |
| Local Group | Không gian đối đầu giữa Milky Way, Andromeda, Triangulum và các thiên hà lùn |
| Virgo Cluster | Biên giới xa chỉ các thế lực có hạ tầng E8–E9 có thể tiếp cận ổn định |
| Laniakea | Không gian dành cho giai đoạn Eternal và Genesis |
| KBC Void | Vùng thiếu hụt vật chất cỡ hàng trăm megaparsec chứa Milky Way, Nhóm Địa Phương và các cấu trúc địa phương; con hào tự nhiên trước vùng cosmic web dày đặc hơn |
Khoảng cách vẫn tạo ra biên giới. Những hành lang thuận lợi để tạo Fold, Tinh Môn và vùng ổn định D2 quyết định đường đi; khoảng trống liên thiên hà đòi hỏi năng lượng cùng hạ tầng rất lớn để vượt qua. KBC Void không hoàn toàn rỗng và không có biên hình cầu sắc nét, nhưng quy mô gần một tỷ năm ánh sáng khiến việc rời Milky Way chỉ là bước đầu, chưa phải thoát khỏi vùng vĩ mô này.
Các mốc thời gian, giới hạn lưu lượng và điều kiện xây tuyến nằm tại Du hành liên sao và Truyền tin liên sao.
Năm lớp bản đồ
Không thể mô tả quyền lực chỉ bằng một bản đồ phẳng. Hồ sơ chiến lược sử dụng năm lớp:
- Bản đồ thiên văn: sao, hành tinh, nhánh xoắn ốc và thiên hà.
- Bản đồ Fold: hành lang an toàn, Tinh Môn và điểm nghẽn vận tải.
- Bản đồ tài nguyên: năng lượng sao, hố đen, công nghiệp và vùng tản nhiệt.
- Bản đồ chính trị: lãnh thổ, căn cứ, đồng minh và khu vực tranh chấp.
- Bản đồ hậu quả: Dấu Nhân Quả, vùng hạ tầng D2 hư hại và những hậu quả chưa giải quyết của Nguyên Chiến.
Hai hệ sao gần nhau về không gian có thể nằm rất xa trên bản đồ Fold. Ngược lại, một Tinh Môn có thể khiến hai vùng thuộc các nhánh khác nhau trở thành láng giềng chiến lược.
Bản đồ chiến lược
Bản đồ sau thể hiện tuyến quyền lực và vận tải, không theo tỷ lệ thiên văn:
flowchart LR
AND["Andromeda<br/>Trung tâm Orden<br/>Xung đột Duy Trì–Cải Cách"]
TRI["Triangulum<br/>Các thành bang Tinh Môn<br/>Chiến tranh ủy nhiệm"]
DWARF["Các thiên hà lùn<br/>Căn cứ lưu vong<br/>Kho bí mật và thuộc địa"]
LMC["Magellanic Clouds<br/>Hạm đội di động<br/>Công nghiệp và lính đánh thuê"]
subgraph MW["Milky Way — chiến trường chính"]
CENTER["Galactic Center<br/>Năng lượng hố đen<br/>D2 phức tạp, di tích Nguyên Chiến"]
SCUTUM["Scutum–Centaurus Arm<br/>Công nghiệp nặng<br/>Các Core House"]
SAG["Sagittarius Arm<br/>Các quốc gia chủng tộc phục hồi"]
ORION["Orion Arm<br/>Hệ Sol và Ngục Tinh<br/>Vùng Thức Tỉnh"]
PER["Perseus Arm<br/>Pháo đài và hành lang Orden"]
OUTER["Outer Arm và Galactic Halo<br/>Người tị nạn, hạm đội độc lập<br/>Di tích chưa khai phá"]
CENTER <--> SCUTUM
CENTER <--> SAG
SCUTUM <--> SAG
SAG <--> ORION
PER <--> ORION
ORION <--> OUTER
end
AND == "Hành lang quân sự Orden" ==> PER
TRI == "Mạng thương mại Tinh Môn" ==> ORION
TRI <--> AND
LMC -. "Vận tải và buôn lậu" .-> OUTER
DWARF -. "Căn cứ bí mật" .-> LMC
DWARF -. "Tuyến Fold không ổn định" .-> AND
Các vùng chính
Galactic Center
Nguồn năng lượng hố đen và vật chất dồi dào nhưng trường hấp dẫn và hình học D2 phức tạp. Nhiều trạm E8 tồn tại tại đây, song không đế chế nào giữ quyền kiểm soát lâu dài.
Scutum–Centaurus Arm
Trung tâm công nghiệp nặng, luyện vật liệu, chế tạo Core và đóng tàu chiến. Các thế lực địa phương giàu nhưng phụ thuộc tuyến vận tải ra ngoài vùng nhiễu.
Sagittarius Arm
Nhiều chủng tộc cổ đã tái lập quốc gia hoặc đòi lại lãnh thổ. Biên giới thay đổi liên tục do nội chiến, di cư và tranh chấp quyền thừa kế đế chế cũ.
Orion Arm
Vùng tranh chấp quyết liệt nhất sau khi Ngục Tinh suy yếu. Hệ Sol chứa Lum, Luna Vault, nhiều Source Key và con đường tái hợp Nguyên Ngôn.
Perseus Arm
Hành lang phòng thủ cũ của Orden, gồm pháo đài, trạm cảnh giới và các Prison World khác. Một số căn cứ vẫn trung thành; số khác đã trở thành quốc gia độc lập.
Outer Arm và Galactic Halo
Thưa dân, khó tiếp vận và khó kiểm soát. Đây là nơi trú ẩn của người tị nạn, hạm đội du mục, kho dữ liệu và các vũ khí bị che giấu sau Nguyên Chiến.
Andromeda
Trung tâm quyền lực Orden nhưng không phải một khối thống nhất. Các phe Duy Trì, Cải Cách và quân sự tranh cãi về việc tái lập nhà tù hay phá hủy Hệ Sol.
Triangulum
Nhiều thành bang sống nhờ Tinh Môn, tài chính, bảo hiểm và hậu cần. Họ tuyên bố trung lập nhưng thường trở thành chiến trường ủy nhiệm.
Magellanic Clouds và các thiên hà lùn
Vùng lưu vong, khai thác tài nguyên, căn cứ bí mật và tuyển mộ lính đánh thuê. Khoảng cách cùng tuyến Fold nghèo nàn giúp các cộng đồng nhỏ tránh bị đế chế kiểm soát hoàn toàn.
Biên giới xa
Virgo Cluster, phần còn lại của Laniakea và rìa giả định của KBC Void tồn tại trong hồ sơ thiên văn, nhưng tuyến Fold liên thiên hà rất ít và không ổn định. Những tín hiệu từ đó có thể thuộc về nền văn minh khác, di tích Genesis hoặc nhiễu tự nhiên. Giai đoạn đầu không xác nhận câu trả lời để giữ cảm giác vũ trụ còn rộng hơn mọi bản đồ hiện có.
Năm 10.263, Human chỉ kiểm soát một mạng khai phá nhỏ quanh Hệ Sol và chưa rời Milky Way. Chỉ từ Đại Phân Liệt Ngân Hà trở đi họ mới có hạ tầng chạm vùng ngoài thiên hà; việc vượt KBC Void thuộc các giai đoạn liên thiên hà và cấp cao hơn.